Giới thiệu chung
Tóm tắt về Di tích Đền Tranh, Đền thờ Khúc Thừa Dụ, Nghệ thuật múa Rối nước Hồng Phong
Giới thiệu tóm tắt về Di tích Đền Tranh, Đền thờ Khúc Thừa Dụ, Nghệ thuật múa Rối nước Hồng Phong
 

         1. Đền Tranh:

        Theotruyền thuyết, ngày xưa ở làng Lạc Dục, huyện Tứ Kỳ có hai vợ chồng nhànghèo, đã già mà chưa có con. Một hôm người chồng cuốc vườn bắt được ởcạnh bụi cây 2 quả trứng, ngỡ là trứng chim nên đem đi cất cẩn thận. Ngờđâu, 2 quả trứng nở thành 2 con rắn. Người vợ sợ quá, định đem giết đinhưng người chồng không nghe, nói rằng có lẽ trời cho ta khuây khỏa cảnhgià đây. Quả nhiên, hai con rắn quấn quýt với 2 vợ chồng ông già. Mộthôm ông cuốc đất, 1 con nhảy vào đùa nghịch, bị ông cuốc cụt đuôi. Vềsau khi linh ứng, dân làng lập miếu thờ, gọi là miếu Ông Cộc, Ông Dài.Nhưng phải một nỗi, 2 con rắn ấy chỉ ăn gà thôi. Ông già đi ăn trộm gàcho chúng ăn nhiều rồi, sau sợ hàng xóm biết thì phải tội nên đành phảimang 2 con rắn vứt xuống sông Tranh. Chỗ vứt 2 con rắn ấy về sau sóngxoáy dữ lắm. Một hôm có bà công chúa muốn qua sông nhưng nớưc xoáy dữ,thuyền không qua được. Sau theo lời quan, dân sở tại đòi 2 vợ chông ônggià đến hỏi chuyện. Bà lão sợ quá, bèn lấy 2 nắm cơm vứt xuống sông vànói rằng "con ơi, con có thương mẹ thì đừng nổi sóng nữa để mẹ khỏitội". Bà vừa nói xong thì sóng yên lặng.

        Vềsau có ông quan phủ tên là Trịnh Thường Quân được bổ về Ninh Giang. Ônglấy một người vợ lẽ đẹp lắm. Một hôm bà đi chơi thuyền trên sông Tranh,gặp một người dưới nước lên đòi lấy bà làm vợ. Bà nhất định không nghe.Đêm về, đang ngủ, bỗng lại thấy người đó hiện vào phòng, nhất định đòilấy. Bà đem chuyện này nói với quan Phủ. QUan Phủ cũng lấy làm lạ nênphòng giữ cẩn thận. Một hôm ngài có việc quan đi vắng, đến luúc về thìthấy buồng không. Quan Phủ lấy làm phiền lắm, bèn từ chức, ngày ngày rabờ sông Tranh tìm vợ. Sau gặp một ông Tiên tên là Quỷ Cốc ở miền HảiQuốc mách rằng bà Phủ đã bị Hoàng tử thứ 5 của Vua Thủy bắt xuống làm vợrồi. Tiên Quỷ Cốc nghĩ thương tình quan Phủ nên giúp sức cho xuống đượcđiện Vua Thủy mà kêu, Tiên cũng kêu hộ. Sau Vua Thủy cho cả hai vợchồng về rồi bắt Hoàng tử thứ 5 đem đày ra sông Tranh. Từ đó dân ở 2 bênbờ thấy có nhiều điều kỳ dị nên lập đền thờ, gọi là đền Tranh. Dânquanh bến hoặc thuyền bè xuôi ngược qua đây nếu gặp sóng gió đều kêucầu, sóng gió sẽ êm. Ai có cầu kiểu gì cũng đều linh ứng. Thỉnh thoảngnhững đêm trong sáng, có người trông thấy một thanh niên mũ áo từ trongđền đi ra. Người ta liền kháo nhau, đó là Quan lớn Tuần Tranh. Về sau,do có nhiềuocong giúp dân buôn thuyền, bán bè, qua sông bình an, may mắnnên vị thần được tôn là: Quan "đệ ngũ Tranh Giang Hoàng hợp tôn thần". Đền Tranh có tiếng linh thiêng, cầu việc gì được việc ấy nên khách đến lễ ngày càng đông...

                           

          Đền Tranh được khởi dựng từ bao giờ, cho đến nay chưa có tài liệu nào xác định.. Theo truyền thuyết, đền Tranh ban đầu là là một ngôi miếu nhỏ, sát ngã ba sông. Do sông Tranh đổi dòng nên phải chuyển vào phía trong.  Năm 1822 đã có nhiều người công đức để tôn tạo. Khi thực dân Pháp chiếm tỉnh Hải Dương, nhân dân chuyển đền về dựng tại phía Bắc đền cũ (khu doanh trại Lữ đoàn 513 hiện nay). Năm 1935 đền được xây dựng lại hoành tráng trên khuôn viên rộng tới 4 mẫu Bắc bộ. Năm 1966 do nhu cầu mở rộng doanh trại quân đội nên đền Tranh được chuyển về vị trí hiện nay. đền Tranh đã được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia từ năm 2009. 

        Đền Tranh có 2 kỳ lễ hội chính: Lễ hội tháng 2 từ ngày 10 - 12/2 âm lịch.. Lễ hội tháng 8 từ 20-25/8 âm lịch. Ngoài ra còn ngày Tiệc Quan vào ngày 25/5 âm lịch. Theo truyền thuyết, đay là ngày quan lớn khao tiệc, khách làm ăn đến đây rất đông để lễ và hầu đồng...

         2. Đền thờ Khúc Thừa Dụ:

        Khúc Thừa Dụ quê ở trang Cúc Bồ, đất Hồng Châu (nay thuộc xã Kiến Quốc, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương), là một hào trưởng, thuộc dòng “họ lớn lâu đời”, “một đại cự tộc có ảnh hưởng xã hội rất to lớn”. Ông là bậc tài trí xuất chúng, có ý chí hơn đời, “tính khoan hòa, hay thương người, được dân chúng suy tôn..., tín phục.

        Khi triều đại nhà Đường đổ nát, giai cấp phong kiến Trung Quốc phân tranh gay gắt, hết sức rối ren, thì ở nước ta, trên đất Hồng Châu, Khúc Thừa Dụ ngày đêm tập hợp lực lượng, tích trữ lương thực, theo dõi chặt chẽ tình hình giặc, ráo riết chuẩn bị cho việc giành quyền quyết định vận mệnh đất nước. Nhờ tài cao đức cả, Khúc Thừa Dụ được dân chúng khắp nơi mến mộ, nguyện làm nghĩa binh, gia nhập lực lượng, tạo thế lực ngày càng lớn mạnh.

        Năm 905, sau khi tên Tiết độ sứ Độc Cô Tổn - một quan chức nhà Đường tại An Nam đô hộ phủ bị triệu hồi về nước, rồi bị đày đi Quỳnh Châu (đảo Hải Nam) và chết ở đó, chức quan đô hộ ở nước ta bỏ trống. Biết triều đình nhà Đường đang lúc mạt vận, không thể điều binh sang cứu nguy, Khúc Thừa Dụ liền chớp thời cơ ngàn năm có một, đem toàn bộ lực lượng tiến vào thành Tống Bình (Tức Hà Nội ngày nay), “tự xưng là Tiết độ sứ...”(3). Mất thành Tống Bình, chính quyền đô hộ nhà Đường ở các địa phương cũng lần lượt tan rã. Nhờ tài trí thông minh, sự nhạy bén chính trị và quyết đoán sáng suốt, Khúc Thừa Dụ buộc nhà Đường phải thừa nhận vai trò lãnh đạo của họ Khúc. Năm 906 (Thiên Hựu thứ 3, tháng 2 ngày 7, tức ngày 1/2/906), vua Đường phong cho ông chức Tĩnh Hải Tiết độ sứ, chức quan cao nhất ở ngoại biên, lại gia phong Đồng bình chương sự, có quyền thay triều đình quyết định mọi việc.

        Nắm quyền lực trong tay, Khúc Thừa Dụ nhanh chóng cắt đặt quan lại, nắm giữ những chức vụ chủ chốt, dốc sức điều hành quản lý đất nước, ban hành nhiều chính sách tích cực và tiến bộ, xây dựng bộ máy chính quyền mới trong cả nước.

         Đây là một thắng lợi có tầm vóc lớn lao và trở thành dấu ấn lịch sử đậm nét trong lịch sử Việt Nam.

        Ngày 23/7/907, Khúc Thừa Dụ mất, con ông là Khúc Hạo lên thay, kế tục xuất sắc sự nghiệp của cha. Lúc này, nhà Đường bị cướp ngôi, nhà Hậu Lương ra đời, vẫn rơi vào thời kỳ hỗn loạn “Ngũ đại thập quốc”. Nhà Hâụ Lương sai sứ sang tấn phong cho Khúc Hạo làm Tĩnh Hải Tiết độ sứ, Đồng Bình chương sự, mặc nhiên phải thừa nhận quyền tự chủ của nhân dân ta và quyền thế tập của họ Khúc.

        Trước âm mưu đen tối của kẻ thù và tình thế khó khăn của đất nước trong buổi đầu giành quyền tự chủ, Trung chúa Khúc Hạo đã ra sức thu dụng nhân tài, tiến hành hàng loạt cải cách toàn diện và sâu sắc. Ông cải tổ căn bản nền hành chính, tăng cường năng lực quản lý của bộ máy nhà nước, từ trung ương đến cơ sở. Ông chia nước ra thành Lộ, phủ, châu, giáp, xã. Ở cấp xã (cấp cơ sở), đặt ra chức Chánh lệnh trưởng và Tá lệnh trưởng để trông coi việc thuế. Ông cho lập sổ hộ khẩu, kê rõ quê quán, giao cho giáp trưởng trông coi. Đặc biệt, đã định ra chế độ thuế khóa và lực dịch mới, “bình quân thuế ruộng, bãi bỏ lực dịch... chính sự cốt ở khoan dung, giản dị, cho nên nhân dân đều được yên vui”, càng thiết tha với việc giữ gìn nền tự chủ. Về đối ngoại, Khúc Hạo khôn khéo chủ trương thần phục nhà Hậu Lương và ứng xử mềm dẻo với Nam Hán, để tránh xung đột, tạo cơ hội hòa bình, củng cố nền tự chủ còn non trẻ. Lịch sử đã ghi nhận ông là nhà cải cách đầu tiên trong lịch sử dân tộc.

        Năm 917, Khúc Hạo mất, Khúc Thừa Mỹ kế tục chỉ được 6 năm, thì bị quân Nam Hán bắt (năm 923; có sách viết là năm 930), nhưng sự nghiệp lớn lao mà họ Khúc để lại, đã là cơ sở vững vàng, tạo tiền đề chắc chắn cho Dương Đình Nghệ đánh bại Lý Tiến năm 931, cho Ngô Quyền đại thắng Bạch Đằng năm 938, khẳng định dứt khoát quyền độc lập tự chủ của dân tộc Việt Nam.

         Tuy thời gian từ Khúc Thừa Dụ đến Khúc Thừa Mỹ lãnh đạo nhân dân giành quyền tự chủ, xây dựng chính quyền độc lập có 23 năm (từ năm 907 đến năm 930), tuy chưa xưng đế, xưng vương, chưa đặt quốc hiệu, bề ngoài còn tự nhận mình là quan của triều đình phương Bắc, nhưng thực chất rõ ràng: Khúc Thừa Dụ và con cháu ông đã đặt dấu chấm hết cho thời kỳ Bắc thuộc hàng ngàn năm, tạo dựng được nền tảng căn bản đầu tiên cho cơ đồ độc lập tự chủ của nước nhà.

        Khúc Thừa Dụ chỉ nắm toàn quyền có hai năm, Khúc Hạo 10 năm rồi băng hà, nhưng đã trở thành bước ngoặt lịch sử. Khúc Thừa Dụ và con cháu ông đã được coi là những người khai quốc, đặt nền tảng căn bản cho kỷ nguyên quốc gia độc lập, xứng đáng vạn cổ lưu danh, đời đời ghi nhớ.

         Dự án “Tôn tạo và xây dựng Đền thờ Khúc Thừa Dụ” do Công ty Tu bổ di tích và Thiết bị văn hóa TW lập và thiết kế, với quy hoạch chi tiết tổng diện tích khu Đền được phê duyệt là 57.653m2, tổng mức đầu tư trên 38 tỷ đồng. Công trình gồm 5 hạng mục chính, do UBND huyện Ninh Giang làm chủ đầu tư, Công ty TNHH Mỹ thuật Hà Nội thực hiện, khởi công ngày 4/9/2004, tiến hành qua 3 giai đoạn. Đến nay, công trình đã căn bản hoàn thành.

                                   

          Ngôi đền toạ lạc trên diện tích 3,5 héc ta ngay bên dòng sông Luộc hiền hoà. Đền thờ có kiến trúc độc đáo, gồm các toà: Tiền tế, Trung từ và Hậu cung. Hai bên có nhà Tả vu, Hữu vu, giếng mắt rồng, phù điêu đá, tượng Linh thú, hồ sen, cầu đá, tứ trụ, khu vực cây xanh, bồn hoa, cây cảnh... Tất cả được xây dựng theo kiến trúc truyền thống với nguyên liệu bền vững như: đồng, đá và gỗ lim.

        Trong cung điện có 3 pho tượng bằng đồng nguyên khối. Mỗi pho cao hơn 2 mét, nặng trên 2 tấn. Đó chính là: tượng Khúc Tiên chúa (tức là Khúc Thừa Dụ); tượng Khúc Trung chúa (tức là Khúc Hạo); tượng Khúc Hậu chúa (tức là Khúc Thừa Mỹ). Ba vị chúa thế kỷ thứ 10 được nhân dân tôn kính như 3 vị vua đầu tiên của đất nước.

         Nghệ sỹ điêu khắc Khúc Quốc Ân, hậu duệ của họ Khúc, tác giả của 3 pho tượng trên đã cố gắng thể hiện thần thái 3 pho tượng bằng cả tấm lòng thành kính của mình với các vị Tổ họ Khúc - những người có công đầu mở nền độc lập tự chủ cho nước nhà, chấm dứt ách đô hộ 1.000 năm của bọn phong kiến phương Bắc, đặt mối bang giao thật sự và có những cải cách hành chính quan trọng.

          Đây là những pho tượng chuẩn mực, góp phần làm phong phú bản sắc văn hoá dân tộc.

         Đền thờ Khúc Thừa Dụ thật xứng là một công trình văn hoá tâm linh thời kỳ đổi mới, tiếp nối dòng chảy muôn đời của lịch sử.

          3. Rối nước Hồng Phong.

         Nghệ thuật múa rối nước Bồ Dương, xã Hồng Phong có từ trước thế kỷ 17. Với hình ảnh những chũ tễu, cô tiên, đô vật, tễu vuốt râu rồng, sóc leo cây… và nhiều chi tiết liên quan đến quân trò rối còn lưu trên các bức chạm khắc tinh xảo tại đình Bồ Dương - Di tích lịch sử văn hóa quốc gia.

                                     

 
 
Quay lại   
 
Truyền thanh

VĂN BẢN MỚI

BỘ PHẬN MỘT CỬA
 
 
LIÊN KẾT WEBSITE
 
 
LƯỢT TRUY CẬP
 
 
 Hôm nay338 
 Hôm qua957
 Tuần này7764 
 Tất cả754158 
IP: 3.235.29.190